Thứ Sáu, tháng 7 20, 2007

Khóc Đại Ngọc




Đại Ngọc đã chết cùng Trần Hiểu Húc! Khóc nàng, cũng là khóc Trần Hiển Húc, khóc cho một kiếp vô thường, cũng là khóc tình tôi ngày nào.

----------



Khóc Đại Ngọc

Người ngọc song khuê khuất dáng rồi
Thềm hoa hoang hoải bóng trăng rơi
Lầu hương công tử sầu tri kỉ
Giấc mộng uyên ương lạnh bên đời


Mây đẹp mau tan, mộng đẹp trôi
Vì ai hoa thắm rụng tơi bời
Chôn hoa nào biết người xuân cũ
Hồng phai hương lạt luống ngậm ngùi


Đàn lạnh một cung, trâm gẫy đôi
Khóc người bạc mệnh, lệ tuôn rơi
Sông Tương dấu cũ còn đâu thấy
Song trúc ngẩn ngơ nỗi nhớ người


HN Đêm 17.5.07 Read More!

Vì sao người Việt chỉ đoàn kết khi nhậu?

Đang bận, nhưng đọc được bài này, ngứa ngáy chân tay quá thế là lại phải gõ. Mình đúng là rách việc mà.

Tác giả bài báo này tổng kết 4 lý do vì sao người Việt k đoàn kết:

-Thứ nhất, người Việt đưa môi trường làm việc vào cuộc sống riêng tư, coi đồng nghiệp là bạn bè thân thiết nên không tránh được các cung bậc tình cảm hỉ nộ ái ố.

-Thứ hai, người Việt làm việc không chuyên nghiệp, hay tự ái cá nhân nếu bị phê phán trong công việc.

-Thứ ba, người Việt hay chia bè phái, phe cánh.

-Thứ tư, người Việt đặt lợi ích mình cao hơn lợi ích tập thể.

Mình không thấy thuyết phục lắm.

-Thứ nhất, đúng là người Việt không có thái độ tách biệt giữa công việc và tình cảm, nhưng có trời mới biết họ có thực sự coi đồng nghiệp là bạn bè thân thiết hay không, hay đó chỉ là thói quen đưa vấn đề riêng tư vào công việc.

Mình nhớ ông thầy người Úc từng nói làm gì có tình bạn ở công sở, chỉ có sự cạnh tranh. Mình thấy điều đó đúng với mọi môi trường làm việc và văn hoá. Con người ở đâu thì vẫn là con người, ai mà không mang đầy đủ các cung bậc hỉ, nộ, ái, ố. Đố kỵ là tính cách cơ bản nhất của con người. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ người ta kiềm chế được nó đến đâu, xử lý nó thế nào.

Cộng tác là một mặt khác của mối quan hệ đồng nghiệp. Tây mạnh về mặt này nhưng người Việt lại yếu ở mặt này là do đâu, sẽ nói ở phần dưới.

-Ai mà không tự ái cá nhân khi bị phê phán trong công việc? Đã là con người ai là không quan tâm đến thể diện (trừ người bệnh đã mất khả năng nhận thức). Quan trọng là phê phán thế nào để đạt được hiệu quả, người Việt yếu vì người Việt không có văn hoá phê phán, cũng sẽ nói tiếp ở dưới.

-Chia rẽ, bè phái là hệ quả của tính không đoàn kết, không phải là nguyên nhân.

-Nếu nói về tính cộng đồng và tính cá thể thì Tây có khi có tính cá thể cao hơn Việt, nhưng vì sao trong công việc họ lại biết đặt lợi ích tập thể lên trên, điều đó không thể chỉ giải thích bằng văn hoá, sẽ nói kỹ dưới đây.

Mình nghĩ để giải thích cho tính mất đoàn kết của người Việt một mặt phải nhìn vào văn hoá vì văn hoá sẽ chi phối tư duy và cách hành xử. Nhưng văn hoá là lớp cắt sâu, và nó không đủ để giải thích, vì thế phải nhìn cả vào điều kiện kinh tế xã hội - là lớp cắt ngang - nữa (mà thực ra 2 mặt này quan hệ qua lại, khó tách biệt).

Văn hoá VN là văn hoá tiểu nông, tính tư hữu cao (đó chính là lý do vì sao mà phong trào hợp tác xã thất bại - đoạn này tự kiểm duyệt hehe, khổ thế, đưa ra public đếch dám nói thật hết những gì mình nghĩ...!!). Chính ông ngoại quốc tên là Mác cũng thấy rằng người nông dân giống như củ khoai, dốc ra khỏi bao tải thì mỗi củ lăn đi một nơi. Trong khi những nền văn hoá kém tính ổn định hơn như văn hoá du mục phương Tây, thì các thành viên trong cộng đồng buộc phải có tính cộng tác cao hơn do điều kiện sống luôn phải di chuyển theo bầy đàn (mặc dù điều này ko có nghĩa là họ ko có tính cá thể cao).

Nói về điều kiện kinh tế- xã hội, những xã hội công nghiệp hoá cao thì tính đoàn kết, cộng tác phải cao hơn vì tất cả phải theo dây chuyền (có lẽ do đặc trưng văn hoá nên các xã hội phương Tây có điều kiện công nghiệp hoá dễ hơn mình).

Còn trong một xã hội lộn xộn như VN, mạnh ai nấy sống thì chẳng ai thấy sự cần thiết của cộng tác và đoàn kết. Đó là chưa nói ở nơi đâu mà điều kiện sống càng khắc nghiệt thì càng khuyến khích cạnh tranh không lành mạnh (mọi người có thấy bẩn tính nhất thế giới là người Ấn, người Việt và người Tàu không?). Thể chế pháp luật không đủ mạnh để kiềm chế thì cái sự chia rẽ nội bộ, gây bè kết cánh, đố kỵ hãm hại nhau, đặt lợi ích cá nhân lên lợi ích tập thể nó càng hoành hành.

Tất cả những cái này có thể học được không, tư duy phê phán, văn hoá phê phán, văn hoá cộng tác? Câu trả lời hiển nhiên là có. Không ai tự nhiên sinh ra đã có sẵn những thói quen và cách hành xử tốt, kể cả Tây. Nhưng trong khi Tây rất chú ý giáo dục pháp luật và ý thức cộng đồng cho con em họ, Việt Nam có ai để ý dạy những cái này cho trẻ con từ bé không? Đó cũng chính là nguyên nhân tạo nên sự khác biệt. Read More!

Thứ Ba, tháng 8 22, 2006

Đi xem Drag Queen Show ở Auckland

Ở Auckland gần 5 năm mà không hề biết đến quán bar độc nhất vô nhị này. nếu không lên cơn hồng hồng tuyết tuyết hôm đó thì chắc sẽ chả bao giờ có cơ hội mà "tác nghiệp" thế này. A big thank to Becky and John.

Như đã hẹn, tối thứ Bảy, cô bạn đưa chúng tôi đi bar Finale - một quán bar độc nhất vô nhị ở New Zealand với những màn trình diễn ca-múa-nhạc của các Drag Queen (đàn ông ăn mặc giống phụ nữ, thường là dân gay). Đúng 8 giờ 30, tối chúng tôi có mặt tại số 350 đường Karangahape, trung tâm "cuộc sống về đêm" (night life) ở Auckland (1).

Đón chúng tôi tại cửa là tay bảo vệ người Samoa cao to lừng lững. Vì là chỗ quen biết (cô bạn chúng tôi là nhân viên của quán) nên chúng tôi không bị kiểm tra I.D. (2). Khi chúng tôi đến nơi thì quán đã chật đông khách, phần lớn là dân da trắng; nhìn quanh có lẽ chỉ có chúng tôi là "đầu đen"), đủ mọi lứa tuổi, từ thanh niên đến trung niên và... lão niên. Màn trình diễn đã bắt đầu được ít phút. Trên sân khấu là ba "kiều nữ" nõn nà trong trang phục vũ nữ đang nhảy những vũ điệu cực "hot", miệng hát nhép theo nhạc. Không khí vô cùng sôi động bởi những tiếng vỗ tay, huýt sáo và hò hét cuồng nhiệt từ khán giả. Theo lời Becky (tên cô bạn), đêm nay là còn tương đối ít ồn ào so với mọi đêm. Thường thì mọi khi khán giả nhảy cả lên bàn, vừa hát vừa nhảy theo nhạc cùng các "cô" Drag Queen. Nhân lúc "cô" M.C. ẻo lả bước ra sân khấu giới thiệu tiết mục tiếp theo, tôi tranh thủ ngó quanh. Quán bar Finale bày trí cũng giống như mọi quán bar hiện đại khác thường gặp ở các nước phương Tây, với quầy bar chạy dọc theo tường, bàn ghế, đèn mờ xanh đỏ, sân khấu dành cho nhạc sống. Có khác chăng chỉ là màn trình diễn của các "cô" đồng tính nam vào các tối thứ Năm, thứ Sáu, thứ Bảy đã biến nó thành một trong những quán bar được yêu thích nhất tại New Zealand, một đất nước tương đối cởi mở về vấn đề đồng tính (3). Với giá vé vào cửa tương đối phải chăng - 55 đô-la New Zeland (một đô New Zealand theo thời giá hien tại bằng khoảng 0,72 đô la Mỹ), khách hàng có thể thưởng thức hai show diễn của các "cô", mỗi show chừng một tiếng, nghỉ giữa giờ 30 phút. Giá vé bao gồm cả đồ ăn (buffet bắt đầu từ 7 giờ 30 tối) nhưng không có đồ uống. Tuy nhiên khách hàng có thể mua đồ uống tại quầy bar với giá như ở ngoài (từ 5 đến 6 đô-la một ly vang, 12,50 đô một ly cocktail). Thậm chí giá đồ uống ở đây còn rẻ hơn so với nhiều quán bar khác tại khu vực trung tâm Auckland. Thảo nào quán đông khách thế. Cậu bạn người Hàn Quốc đi cùng chúng tôi từ nãy đến giờ chỉ chăm chăm nhìn lên sân khấu, mieng suýt xoa liên tục: "Ôi Chúa ơi không thể nào tin nổi họ là đàn ông. Nhìn giống phụ nữ kinh khủng!" Theo lời Becky, tuy các Drag Queen ban ngày ăn mặc giống như đàn ông nhưng họ không tự cho mình là đàn ông, bằng chứng là họ vẫn dùng toalet... nữ và rất khó chịu nếu ai đó gọi họ là "he" (anh ta) thay vì "she" (cô ta). Becky kể có lần một Drag Queen chạy ào vào bếp nơi các nhân viên phục vụ đang chuẩn bị đồ ăn, vừa khóc nức nở vừa "tố cáo" một khách hàng đã sờ nắn "ngực" của "cô ta", mặc dù đó chỉ là bộ ngực bằng cao su!

Giờ nghỉ giải lao giữa hai show, tôi tranh thủ bám chân Becky vào bếp gặp các "cô" Drag Queen. Dưới ánh đèn nhà bếp, nhìn họ rõ hơn trên sân khấu rất nhiều. "Cô" nào nhìn cũng nõn nà, vai tròn mềm mại, chân dài và thon, không khác gì các cô người mẫu thời trang là mấy, duy chỉ có đường nét thô ráp trên gương mặt và giọng nói ồm ồm là có thể "tố cáo" giới tính thật của các "cô". Họ cũng vui mừng ra mặt khi tôi khen kiểu tóc của "cô" này đẹp, "cô" kia xinh gái, múa hay. Ngoài quầy bar, khách hàng ùa ra chụp ảnh với các "cô". Họ thật sự vui vẻ, cười nói huyên náo, như Becky vẫn nói: "What bring them here is fun" (Họ đến đây vì vui). Tôi để ý thấy khá nhiều trong số họ là gay dạng transexual (theo lời Becky, có hai kiểu gay, một kiểu nhìn như nam giới và vẫn ăn mặc như nam giới, còn một kiểu khác là "transexual" - gay "chuyển đổi giới tính", trông hoàn toàn giống với phụ nữ, từ thân hình đến cách ăn mặc, trang điểm). Điển hình như hai "cô bé" ngồi bên quầy bar, ăn mặc theo đúng "mốt" hien đại của các cô gái trẻ ở New Zealand - áo hai dây hở bụng, quần jean hoặc váy denim cạp trễ, đi bốt cao đến bắp chân. Thấy tôi chăm chú nhìn, một "cô"
quay sang cười: "Hi" (xin chào) rất tươi tắn khiến tôi không thể không "đáp lễ".

Show diễn kết thúc lúc 11 giờ đêm, sau đó là màn nhảy nhót của khách cho tới 3 giờ sáng. Trên đường về nhà, nhớ lại cuộc tranh luận của chúng tôi hồi chiều về vấn đề đồng tính, Ryan - cậu bạn người Hàn Quốc, vốn phản đối kết hôn đồng tính, phát biểu hôm nay cậu đã được thật sự "mở mắt một phen". Rằng có một thế giới hoàn toàn khác bên cạnh thế giới của chúng tôi và của cậu - những người "straight" (không đồng tính). Tuy nhiên, đó là cuộc sống và trong thế giới đa dạng này chúng ta cần học cách chấp nhận sự khác biệt thay vì phân biệt.

Ghi chú:
(1) Thành phố lớn nhất của New Zealand.
(2) Giấy tờ chứng nhận thân nhân, thường có thông tin về ngày tháng năm sinh - luật pháp New Zealand quy định 18 tuổi trở lên mới được vào quán bar.
(3) New Zealand đã thông qua đạo luật cho phép kết hôn đồng tính vào tháng 12 năm 2004 và đạo luật này sẽ có hieu lực từ ngày 26-4-2005 sắp tới. Với đạo luật này, New Zealand trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới cho phép kết hôn đồng tính - hai quốc gia còn lại là Đan Mạch và Hà Lan.

(Nguyễn Thủy Minh, Auckland 17-4-2005 - NCTG) Read More!

Thứ Năm, tháng 8 10, 2006

Năm tháng đắng cay hơn năm tháng ngọt ngào hơn ...

Olga Bergoltz

"Con người là mảnh vỡ của một ngôi sao buồn".

Tôi hình dung về Olga như thế, như một câu thơ của ai đó.

Người đàn bà cô độc đi dọc đại lộ Matxcova. Mùa thu. Đàn sếu và sương mù. Những trận gió ào ào trút lá. Buồn thì rõ rồi, Olga. Nhưng có phải ai cũng nhạy cảm đến độ cảm giác được cả nỗi đau của những chiếc lá rời cành ấy.

Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc những ai đi qua dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
"Tránh đừng đụng vào cây mùa lá rụng"
.........

Không hiểu sao tôi cứ hình dung chị đã khóc khi viết những câu thơ ấy. Phải, ngay ở những câu thơ bình lặng ấy. Khi chị chấp nhận sự cô độc như không thể nào khác:

"Ôi trái tim tôi, trái tim một mình tôi
Đập hồi hộp giữa phố chiều xa lạ
Buổi chiều kéo lang thang mưa giá
Khẽ rung lên trên ô cửa sáng đèn
Ở đây tôi cần ai khi xuôi ngược một mình
Tôi sẽ yêu ai, ai làm tôi hạnh phúc
"Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng"
Nhắc suốt đường vẫn chỉ bấy nhiêu thôi

Nếu chẳng còn gì khao khát trong tôi
Thì có nghĩa chẳng còn chi để mất
.....
(Mùa lá rụng)

Thơ của Olga là thơ của một người đàn bà đã trải nghiệm tình yêu với đầy đủ những cung bậc hạnh phúc và khổ đau của nó. Đó là tình yêu để mất vì những giận hờn nông nổi của tuổi trẻ:

"Chỉ có một lần thôi
Em hỏi anh im lặng
Thế mà em hờn giận
Để chúng mình xa nhau

Biết đi đâu về đâu
Con đò không bến đợi
Ôi cây xanh tình đời
Có nghe lời ta gọi?"

(Câu chuyện mười năm)

để rồi còn lại mãi một nỗi đau, một niềm ân hận xót xa:

"Năm tháng đắng cay hơn năm tháng ngọt ngào hơn
Em mới hiểu bây giờ anh có lý
Dù chuyện cũ đã xa rồi, anh cách xa thế
Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo"

(Bài thơ cuộc đời)

Có phải vì thế mà thơ chị luôn tìm được sự chia sẻ? Như một thứ quy luật, nhiều khi tôi nghiệm ra khi đọc hai câu cuối trong bài "Mùa hè rớt":

"Sao ơi sao, sao sắp lặn vào đêm
Ta biết lắm thời gian đang vĩnh biệt
Nhưng sao chỉ đến giờ ta mới biết
"Yêu thương - giận hờn - tha thứ -chia ly"

Con đường tình yêu hình như ai cũng như ai, có phải bởi tuổi trẻ luôn đầy kiêu hãnh và sai lầm và "kinh nghiệm của người này không thể truyền cho người khác" (Nguyễn Thi Hồng Ngát), nên dẫu Olga có kể, có khuyên, có van nài:

"Những đôi lứa yêu nhau
Hãy nghe tôi kể lại
Chỉ một lần trót dại
Thế mà thành chia phôi"

thì con đường ấy vẫn cứ chẳng bớt đi chông gai cho những người đi sau:

"Lũ trẻ lớn lên tiếp nối hai ta
Lại hát lại lời yêu thủa trước
Vẫn sông Volga và những chiều sóng nước"

và Olga hoàn tòan có lý khi viết

"Nhưng xét cho cùng họ có lỗi đâu anh"

Bởi đó mới là cuộc sống. Tình yêu, và cả anh và em nữa, đều chẳng ai có lỗi. Trách làm chi những dại khờ non trẻ ấy.

Tôi đọc Olga như đọc chính nỗi niềm riêng của mình. Olga trăn trở từ trong mỗi giấc mơ. Kiêu hãnh thế, nhưng cũng mong manh và dễ tổn thương biết chừng nào:

"Em mong trở về trong giấc mơ anh
Dù trong mơ em không còn như ảnh
Em một thuở cuộc đời như chim như nắng
Như tuổi thanh xuân, như hạnh phúc vô bờ".

(Em mong trở về trong giấc mơ anh)

Ngay cả khi chị kiêu hãnh cất bước một mình mà con đường trước mắt vẫn còn thăm thẳm dài:

"Anh hãy cố vui lên con đường chia hai ngả
Tìm hạnh phúc bình yên trong ấm áp con mưa"

thì đoạn điệp khúc ấy vẫn òa lên day dứt khôn nguôi:

"Tôi ra ga lòng lặng lẽ như xưa
Một mình với mình thôi không cần ai tiễn biệt
Tôi không nói cùng anh đến hết
Nhưng bây giờ còn phải nói gì hơn
Cái ngõ con đã tràn ngập màu đêm
Những tấm biển treo ngang càng thấy trống:
"Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng"

Olga Bergoltz - tôi vẫn hình dung ra chị như thế -"con người đi cô độc quá trên đời". Mẫn cảm, ưu tư như "Mùa hè rớt" của chị.

Nguyễn Thuỷ Minh. Auckland a sleepless night. 28/12/2002 Read More!

Hãy thích cùng tôi

Thúy Bắc

Tôi nhớ một nữ sĩ luôn chứa ẩn nỗi buồn sâu kín nơi đáy mắt. Ấn tượng của tôi về bác là một người đàn bà nhỏ bé, khắc khổ, lặng lẽ, ít lời. Sinh thời, nhà thơ Thúy Bắc từng sống ở khu C4, tập thể Giảng Võ, chung cầu thang với gia đình nhà văn Hoàng Quốc Hải và nhà thơ Nguyễn Thị Hồng. Tôi gặp bác nhiều lần nhưng không hình dung đó lại là tác giả của "Sợi nhớ sợi thương". Ngày ấy còn nhỏ, tôi cứ nghĩ các nhà thơ thường phải có một dáng vẻ mơ màng chứ không phải dung dị như người đàn bà mà tôi vẫn gặp bên chiếc bếp than tổ ong.

"Trường Sơn Đông
Trường Sơn Tây
Bên gió quất
Bên mưa quây
Em giang tay
Em xoè tay
Chẳng thể nào
Xua tan mây"

Bài thơ ấy được phổ nhạc, từng được một thế hệ yêu thích. Và tôi có lẽ cũng chỉ biết đến thế về Thúy Bắc nếu như không có một lần tình cờ tôi đọc được một bài thơ khác của bác:

Nhiều năm em đợi anh
Gió đêm về hoang dại
Bặt tin người trở lại


Ngày em đi lấy chồng
Mây buông dải tang thầm
Tiễn một đời con gái


Lời thơ giản dị mà khiến tôi sững sờ. Không một câu óan trách, người con gái ấy âm thầm chôn chặt vào lòng nỗi đau của một tình yêu dang dở, của một cuộc hôn nhân không bắt đầu từ tình yêu. Có nhiều khi đọc lại bài thơ này tôi vẫn còn cảm thấy hỏang hốt. Cuộc sống này, có nhiều trắc trở như thế không? Về sau, tôi còn đọc được 1 bài thơ khác của Thúy Bắc, đại lọai cũng nói về một tình yêu dang dở, khi anh trở về thì em đã có chồng. và em phải đối diện với một bên là anh, một bên là gia đình. Nhưng bài thơ không hay và cô đọng như bài thơ trên nên tôi không nhớ được câu nào.

Tôi lờ mờ cảm nhận có lẽ người đàn bà ấy đã giấu đi rất nhiều ưu phiền đằng sau cái vẻ lặng lẽ cam chịu ấy.

Tháng năm qua đi. Một ngày kia tôi trở về nhà sau một thời gian đi xa. Mẹ tôi bảo: "Bác Thúy Bắc mất rồi con ạ". Sững sờ. Lại là cái cảm giác ấy, cái cảm giác của lần đầu tiên khi tôi phát hiện ra điều u uẩn trong tâm hồn bác.

Người đàn bà ấy đã đi qua cuộc đời này lặng lẽ quá, ai biết được có bao nhiêu nước mắt, nụ cười, bao nhiêu niềm vui, nỗi khổ trong cuộc đời ngắn ngủi của nhà thơ?

Có thể tất cả những người yêu thơ Thúy Bắc sẽ nhớ đến nhà thơ qua bài "Sợi nhớ sợi thương". Nhưng không hiểu sao, với tôi, ám ảnh hơn cả lại là những câu thơ lặng lẽ mà như cứa vào dạ này:

Nhiều năm em đợi anh
Gió đêm về hoang dại
Bặt tin ngừoi trở lại


Ngày em đi lấy chồng
Mây buông dải tang thầm
Tiễn một đời con gái

Nguyễn Thuỷ Minh. Auckland 1am 10/6/03


Bảo Chân

Có lẽ hơi lộn xộn về mặt thời gian, nếu như xếp chị ngang hàng cùng Thúy Bắc. Vị trí thứ hai tôi định trang trọng dành cho Đoàn Thị Lam Luyến, một hồn thơ đã quyến rũ tôi đến quên ăn quên ngủ. Nhưng chưa đủ thời gian cũng như sự chuẩn bị để viết về cô. Tôi muốn bài viết về Lam Luyến sẽ phải công phu nhất. Thì đành thay Lam Luyến bằng Bảo Chân vậy.

Bảo Chân nổi tiếng từ cuối những năm 80, cùng với Cây bàng thời gian và Phố chiều (?). Những bài thơ chép truyền tay nhau trong giới sinh viên ngày ấy:

Chẳng bao giờ ai đợi em dưới mưa
Như ngày xưa anh đã từng chờ đợi
Đôi vai ướt đầm mái đầu tóc rối
Cây bàng xanh lặng lẽ đứng bên thềm

Kỷ niệm qua rồi còn lại nhớ thương
Anh ra đi đêm mưa thành cổ tích
Em ở lại cành chơ vơ hờn trách
Lá bàng ơi giờ bay mãi về đâu ...


(Cây bàng thời gian)

Thơ Bảo Chân ngày ấy nhẹ nhàng, rất con gái. Tôi có cảm giác rằng ngay cả khi Bảo Chân xót xa thì nỗi buồn ấy vẫn thật khẽ khàng, chưa làm cho người ta phải sững sờ, phải bật khóc vì đớn đau và bất lực:

Khung cửa gầy bóng mẹ liêu xiêu
Cây bàng xanh sang mùa chớm đỏ
Em suốt đời chỉ là khách lạ
Lạc trong đường chiều phố không anh

(Phố chiều)

Vì thế tôi ngỡ ngàng khi gặp lại một Bảo Chân khác, một Bảo Chân đã lột xác hoàn tòan, với nỗi buồn của người thiếu phụ đã đạt đến độ chín - đằm thắm hơn, nhưng cũng đau đáu hơn - trong "Bài ca con sáo". Hình như bao giờ cũng thế, sự trải nghiệm giúp người ta trở nên đằm sâu hơn:

Sáo sang sông vắng
Một mình
Khản cổ hát lời giã biệt
Có ai lắng nghe
Dòng sông ngủ mê bầu trời ngủ mê
Lời ca bay mỏi cánh...


(Bài ca con sáo)

Hãy hình dung thế này. Một người con gái, có thể chính là cô gái đã từng "chơ vơ hờn trách" "anh ra đi đêm mưa thành cổ tích" như trong bài thơ của chị thủa trước - đang khóc cho ngày rẽ về bến khác. "Khoảng thời gian nhạt nhòa mưa xối. Khoảng thời gian chia nhuộm đỏ lá bàng". Đã muộn rồi, đã muộn quá mất rồi, tất cả đã trở thành ký ức, thành "bờ cũ" mất rồi, dù với cô thì quãng đời ấy vẫn mãi mãi trong trẻo, và tươi đẹp nhất:

Bờ cũ ơi,
Ta gửi lại ta về những xa xôi
Những ngày xuân xanh thắm
Ði đến mùa quả chín
Nắng còn nhớ chăng?
Ta gửi lại anh một nửa dòng sông
Một nửa đời ta trong mát
Ði qua cơn khát
Anh còn giữ không?

Có thể là tôi chỉ lẩn thẩn mà thôi; nhà thơ và nhân vật của nhà thơ không phải khi nào cũng trùng làm một. Biết thế, nhưng tôi vẫn cứ xót xa khi nghĩ về hành trình của một tình yêu, từ cây bàng đêm mưa thủa nào, và "khoảng thời gian nhạt nhòa mưa xối" giữa hai người trẻ tuổi, đến lời ca giã biệt day dứt, đầy tiếc nuối, bất lực của người thiếu phụ cô độc hôm nay:

Ta là con sáo lang thang
Nặng lòng bờ cũ
Biết đi đâu biết về đâu
Nơi nào cũng hun hút gió.

Nguyễn Thuỷ Minh. Auckland 1:30am 29/10/03


Nguyễn Thị Hồng

Từ lâu tôi đã muốn viết một cái gì đó về thơ Nguyễn Thị Hồng, những vần thơ đằm thắm, dịu dàng đến day dứt mà khi soi mình vào đó mỗi chúng ta sẽ tìm được những thổn thức của chính nỗi lòng mình.

Nguyễn Thị Hồng viết thơ chưa nhiều, nhưng hai tập thơ “Em ra đi” và “Gọi thu” xuất bản đầu những năm 90 đã để lại một nốt trầm xao xuyến trong bất cứ người nào đã được một lần bước chân vào thế giới riêng ấy của nhà thơ.

Không có cái cuồn cuộn của tận cùng đam mê và cay đắng đầy cá tính như thơ Đoàn Thị Lam Luyến, cũng không có cái quyết liệt và khát vọng yêu đương rực cháy như thơ Xuân Quỳnh, thơ Nguyễn Thị Hồng lặng lẽ, đằm sâu và nhẹ nhàng như một lời tâm sự, nhưng trong lời tâm sự nhẹ nhàng ấy ta đọc được cả một nỗi nhức nhối khôn nguôi, một nỗi mong đợi mỏi mòn, một tình yêu nồng nàn, đằm thắm và dung dị.

Nhà thơ chưa bao giờ nói về nỗi buồn, sự khổ đau của tan tác sinh ly nhưng nỗi buồn đau đáu ấy cứ toát lên từ những vần thơ chân thật và giản dị:

Em ra đi
Để lại tất cả vẹn nguyên như cũ
Một dáng hình nao nao đầu phố
Một cái nhìn khắc khoải thiết tha

(Em ra đi)

Chẳng có ai viết về chia ly như thế: không một lời trách móc, đắng cay, không có cái tức tưởi cuả sự tan vỡ nhưng hỏi ai không đau đến thắt lòng trước khung cảnh nhà thơ gợi lên: một dáng người nao nao, một cái nhìn khắc khoải - chỉ có vậy mà ám ảnh khôn nguôi, một màu xanh mãi còn day dứt của một tình yêu đẹp tan vỡ:

Ta không giữ em làm kỷ niệm
Nghĩa gì đâu một lá cỏ úa tàn
Trong ta mãi còn day dứt
Cái màu xanh thắm thiết tươi non

(Lá cỏ )

Ngay cả sự hờn trách - nếu có - trong thơ Nguyễn Thị Hồng cũng nhẹ nhàng, nhẹ nhàng mà nhức nhối, mà thấm thía từng nỗi buồn đau:

Mai sau, vâng nếu mai sau
Cuộc đời gặp một người nào anh yêu
Trước khi cầm lấy tay nàng
Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi
Một trưa tháng Sáu xa rồi
Một lần nào đó, một người nào đây
Hình như mình cũng cầm tay
Rồi để nàng lại một trời cô đơn.

(Mai sau)

Bao trùm cả hai tập thơ “Em ra đi” và “Gọi thu” là một tình yêu sâu nặng - của một cô gái ngất ngây trong tình yêu đầu đời, rồi của một người phụ nữ không có được cái may mắn lấy được người mình yêu, một người phụ nữ mòn mỏi trong những kỷ niệm đẹp của tình yêu đầu trong trắng, vẹn nguyên, không nhạt nhoà theo thời gian và sự chia cách về không gian.

Cô gái ngây ngất bao nhiêu trong tình yêu:

Ngồi xuống đám cỏ này đi anh
Hoa chấm trắng như trong mơ anh nhỉ
Mênh mang quá đất trời mình đẹp thế
Khi em có anh

thì người phụ nữ héo mòn bấy nhiêu trong những kỷ niệm về tình yêu ấy:

Chỉ còn trong giấc mơ thôi
Cho ta được gặp lại người ta yêu

(Giấc mơ)

Làm sao tìm được mùa thu dịu dàng
Người em yêu ơi bao mùa thu sang
Biết anh còn nhớ mùa thu đầu ấy
Anh đưa em qua suối ngàn nước chảy
Em như viên cuội rơi rồi dưới đáy
Anh về bến cũ vớt mùa thu lên

(Gọi thu)

Đẹp và buồn là thơ tình Nguyễn Thị Hồng. Khép lại cuốn sổ thơ rồi mà lòng vẫn man mác suy tư.

Nguyễn Thuỷ Minh. Auckland 11:00pm 8/7/01


Lại ... văn học và thi ca Nga

Tôi là một kẻ lười đọc và cực đoan trong việc đọc. Dường như từ bé đến lớn tôi chỉ đọc duy nhất một thứ - các tác phẩm kinh điển. Và tôi khước từ những thứ mới mẻ, hiện đại, cập nhật khác. Âu cũng là bản tính của tôi, một kẻ sống nặng về quá khứ, ôm trong lòng nhiều hoài niệm, đến mức gần như chối từ hiện tại. Với tôi, nếu tình yêu đến một lần thì nó sẽ ở lại mãi mãi, bất chấp quy luật khắc nghiệt của thời gian ...

Và điều ấy đã xảy ra khi tôi "ngã vào mối tình đầu" với văn học và thi ca Nga, từ khi còn là 1 cô gái nhỏ.

Những đêm mùa hè tôi tắt điện ngồi ngắm sao trời, tưởng tượng ra đêm thảo nguyên mênh mông của Aitmatov - có tiếng sấm ì ầm từ xa, và những tia chớp xanh lặng lẽ trườn xuống phía chân trời. Có tiếng hát cháy bỏng của Danhyar, vang xa khắp cánh đồng, và cả tiếng thở dài rất khẽ của Giamilia nữa. Tình yêu lớn lao mà đau khổ của họ khiến tôi không thể nào ngủ được ...

Có phải là đa đoan quá không? Không biết nữa. Nhưng bạn tin được không, rất nhiều năm sau khi đọc lại những trang sách của Aitmatov, tôi vẫn có một cảm giác đau thắt như thế. Tôi vẫn muốn khóc khi đọc đọan kết của "Cây phong non trùm khăn đỏ". Vẫn bần thần khi nghĩ về mối tình câm lặng của "Người thầy đầu tiên". Tình yêu có thể đớn đau và day dứt đến thế sao?

Có thể nói tôi đã lớn lên cùng với những trang sách ấy. Những cảm xúc và cảm nhận đầu tiên của tôi về cái đẹp cũng bắt đầu từ những trang sách ấy. Bây giờ, nếu đề nghị tôi nói về văn chương Nga, tôi sẽ không biết phải bắt đầu từ đâu và phải nói những gì. Nhưng ấn tượng sâu sắc nhất của tôi về văn chương Nga, có lẽ như ai đó đã từng nói, đó là nó "dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi", trong trẻo quá, và thuần khiết quá.

Nhưng nếu chỉ nói vậy về văn chương Nga, tôi e rằng chưa đủ. Và chắc cũng sẽ không bao giờ đủ để nói về nó cả.

Tôi yêu sự thuần khiết và đôn hậu của Pauxtovxki, tôi trăn trở cùng những "nỗi đau dịu ngọt" của Aitmatov. Và tôi cũng yêu vô cùng nỗi cô độc và sự bế tắc của Levmontov, của Exenhin. Những tâm hồn luôn khát khao bứt phá, vượt lên khỏi sự hạn hẹp và ngột ngạt của hoàn cảnh. Những cánh buồm đơn độc, khát khao bão tố, "dường như trong giông bão có yên bình"!

Văn chương như một thứ duyên nghiệp. Trong trường hợp của tôi, có lẽ tôi đã mắc vào duyên nghiệp với nước Nga. Một lần đến, nhưng tình yêu đó đã ở lại cùng tôi mãi mãi ...

Nguyễn Thuỷ Minh. Auckland 8 March 2004 Read More!

Chủ Nhật, tháng 8 06, 2006

Nghĩ lại về Pauxtovski - "Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa"!

Tặng chị Acia của em!

Thế hệ chúng tôi và những thế hệ sau Bằng Việt không phải đi qua chiến tranh, không phải học trong những "trường sơ tán". Cũng không có kỷ niệm với những "đồi trung du phơ phất bóng thông già ...". Nhưng những gì Bằng Việt viết về Pauxtovxki - "một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa" - tươi đẹp như ước mơ của tuổi trẻ về tình yêu và hạnh phúc, như niềm tin vào CHÂN-THIỆN-MỸ thì thiết nghĩ không một ai yêu văn Pauxtovxki mà lại không đồng cảm.

Tôi còn nhớ tập truyện ngắn song ngữ đầu tiên mà tôi đọc khi còn theo học tiếng Nga - tình cờ lại là tập truyện "Lẵng quả thông". Truớc đó tôi chưa từng đọc văn Pauxtovxki. Giọng văn trong trẻo, phong cách lãng mạn, trữ tình, và đặc biệt là tính nhân văn trong những truyện ngắn của ông khi ấy thu hút tôi mãnh liệt. Tôi chép tất cả những đoạn văn hay bằng tiếng Nga vào một quyển sổ và ... học thuộc lòng . Tôi cũng chọn Pauxtovxki cho bài tập dịch đầu tiên của mình. Bài tập ấy, tôi bị thầy giáo chê, gạch bút đỏ choe choét. Nhưng như một niềm đam mê, tôi vẫn tiếp tục dịch Pauxtovxki cho chính mình.

"Em còn nhớ mùa thu năm 1911 không? Trời âm u, biển mù mịt. Có một người con gái đi lướt qua tôi trong công viên. Người con gái đó chính là em. Tôi biết rằng mình có thể yêu em đến tan nát tâm hồn ..."

"Từ ngày ấy tôi yêu Krum và con đường nhỏ ... nơi tôi đã gặp em trong phút giây và mất em vĩnh viễn ... " (Tuyết)

Dù là "Tuyết", "Bình minh mưa", hay "Âm nhạc Verdi", không gian trong văn Pauxtovxki thường lãng đãng sương khói, nhuốm vẻ u hoài. Nhưng trong cái lãng đãng u hòai đó bao giờ cũng cháy lên một ngọn lửa ấm áp của tình người. Tôi còn nhớ đã đọc như mê đi cái không gian tuyết trắng phủ kín con đường dẫn lên đồi nơi có ngôi nhà của Tachiana ("Tuyết"), có cánh cổng gỗ kẽo kẹt và chiếc chuông gió không bao giờ kêu. Căn phòng trống trải có chiếc dương cầm đóng bụi. Và bản nhạc dang dở bên chồng thư chưa ai bóc. Bỗng có một ngày, bản nhạc ấy lại vang lên êm dịu, chiếc chuông gió lanh canh thật vui tai, cánh cổng không còn kẽo kẹt mỗi khi khép mở. Và con đường đã dọn sạch tuyết, sẵn sàng đón một người trở về ... Tôi đã khóc khi đọc đọan văn ấy, khóc cho hạnh phúc muộn màng của Tachiana, khóc vì tấm lòng nhân hậu của Pauxtovxki ... Tôi cũng nhớ cái không gian mù mịt sương của "Bình minh mưa", tiếng còi tàu trên bến cảng, con đường gập ghềnh trong đêm hun hút ... Nhưng rồi tất cả bỗng như tan biến trong căn phòng nhỏ có "người đàn bà không quen":

Cái không thể đã thành có thể
Con đường dài hóa dễ với ta
Nhọc nhằn chi mấy cũng qua
Cuối đường tìm kiếm khi ta thấy nàng

Không gian trong "Âm nhạc Verdi" - cái không gian của biển mùa đông, mưa phùn và ẩm ướt - thì thật sự đã vỡ òa khi người giới thiệu đọc lời đề tặng của người nhạc sĩ nhân hậu dành cho cô gái trẻ - món quà mà ông đã hứa sẽ dành tặng cô nhân ngày cô tròn 18 tuổi, rất nhiều năm về trước. Bản nhạc rung lên, nó không còn là âm nhạc nữa. Nó là tiếng gọi của chân-thiện-mỹ. Nó đưa ta đến nơi "không có đau khổ nào có thể làm nhạt nhòa tình yêu, nơi mặt trời rực rỡ như những vòng thiên triều trên đầu các nàng tiên". Đó cũng chính là thông điệp mà Pauxtovxki muốn gửi gắm tới người đọc:

"Dù người ta có nói với cháu thế nào đi chăng nữa thì cháu cũng hãy cứ tin rằng cuộc đời tươi đẹp lắm" (Lẵng quả thông)

Thông điệp mang đậm tính nhân văn của Pauxtovxki, dù đó là những lời tiên đóan về hạnh phúc của anh chàng kể chuyện cổ tích Andexen trong "Chuyến xe đêm", hay món quà của người nhạc sĩ già trong "Âm nhạc Verdi", hay những món quà của nàng tiên trong "Lẵng quả thông" đều làm rung động trái tim người đọc. Thế giới văn chương của Pauxtovxki thần tiên như cổ tích, trong trẻo như tuổi thơ, tràn ngập thứ ánh sáng rực rỡ của hạnh phúc như tuổi trẻ. Có lẽ vì vậy mà nó đã dựng nên "một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa" trong lòng mỗi người yêu văn chương.

Pauxtopxki là dĩ vãng trong em
Thành dĩ vãng hai ta. Bây giờ anh ngoảnh lại
Nhưng không phải thế đâu, không phải thế đâu
Anh hiểu rằng không phải...
Như tuổi thơ, vừa đó đã xa vời!
Ðưa em đi... Tất cả thế xong rồi
Ta đã lớn. Và Pauxtopxki đã chết!
..........

Tôi vẫn nghĩ đến Pauxtovxki như một điều tiếc nuối. Tiếc nuối cái thế giới trong trẻo "Xa xôi sao... Thời thơ ấu sau lưng!". Những cảm nhận về hạnh phúc, những niềm tin vào con người, những ước mơ lung linh như ánh nến ...

Cái thế giới chẳng dễ gì còn thấy lại được nữa, khi mà:

"Ta đã lớn. Và Pauxtovxki đã chết"

Nhưng có lẽ, dù không còn dễ tin vào những điều kỳ diệu, vẫn đọng lại trong chúng ta một cái gì đó, phải không ... để chúng ta trở nên người hơn, và cũng biết trân trọng hơn:

"Hạnh phúc cực hơn mọi điều đã tảLại ngọt ngào, kỳ lạ, lớn lao hơn"

Nguyễn Thuỷ Minh. Auckland 1 March 2004 Read More!

Gặp Phạm Duy tại Hà Nội

Gặp ông tại khách sạn Salut số 7 Hàng Dầu vào một trưa cuối tuần. Nhìn ông tinh anh, vui vẻ, và vẫn rất phong độ ở cái tuổi “xưa nay hiếm” dù vừa trải qua cuộc phẫu thuật tại Mỹ. Đây là chuyến trở ra Bắc đầu tiên của ông sau khi chính thức trở về từ Thị trấn Giữa Đàng. Một chuyến đi giản dị, lặng lẽ, chủ trương không có sự ồn ào của báo chí, theo như người con trưởng của ông, ca sĩ Duy Quang, cho biết.

border="0" />Hỏi chuyện ông về chuyến trở ra thăm Hà Nội lần này, ông nói rất vui. Ông kể ông sinh ra và lớn lên tại phố Hàng Dầu. Thương lắm. Nên lần nào về tới Hà Nội ông cũng chọn nghỉ tại khách sạn nơi đây dù khách sạn nhỏ và không mấy tiện nghi. Cái gì đã thân thuộc với mình như máu thịt, dù nó có nhỏ bé, mình vẫn mong được quay về với nó chứ. Dù rằng Hà Nội giờ đã khác rất nhiều so với Hà Nội “dáng kiều thơm” trong ông nửa thế kỷ trước đây.

Rồi ông sôi nổi quay ra bảo người con trưởng Duy Quang bật cho tôi nghe những bài hát ông viết tặng cho Hà Nội - “Tây Tiến” (phổ thơ Quang Dũng) (tự ông hòa âm cho đúng không gian và bối cảnh của Hà Nội những năm 40 của thế kỷ trước), “Mơ dạo xuân Hà Nội” (phổ thơ Thảo Chi) trong CD “Hương Ca“ gồm 10 ca khúc tình tự dân tộc mà ông đang xin phép Bộ Văn hóa & Thông tin cho phổ biến tại Việt Nam. Nhìn người nhạc sĩ tài hoa say sưa giơ tay đánh nhạc tưởng tượng theo bài hát, tôi chợt hiểu vì sao nhạc của ông lại có sức quyến rũ lòng người đến thế. Cũng như chính sự sôi nổi, tràn đầy tình yêu với cuộc sống của ông có sức lôi
cuốn người khác đến lạ. Nhìn ông nói, ông cười, ánh mắt hóm hỉnh, câu văn dí dỏm, giọng nói còn sang sảng tràn đầy sinh lực, tôi tin sức sáng tác của ông còn dồi dào lắm.

Trong bức thư điện tử gửi cho bạn bè và thân hữu trước khi trở về quê nhà, ông khoe ngay trên giường bệnh, trước giờ phẫu thuật, đã phổ nhạc xong cho bài thơ Đường nổi tiếng trong văn học cổ Trung Hoa - bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” (Thôi Hiệu) - chỉ trong vòng có nửa tiếng đồng hồ. Và một bài hát khác nữa - “Tỳ Bà Hành” (trong “Minh họa Kiều”) - cũng được ông viết phỏng theo thơ Bạch Cư Dị ngay trước ngày lên đường trở về quê nhà. “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” (“Hoàng Hạc Lâu”). Tôi hiểu ông nặng tình quê hương biết mấy. “Trăm năm bến cũ” là đây. Người đã trở về từ bến bờ xa lạ. Hạc vàng biết quý, biết trân trọng thì sẽ chẳng bay đi đâu nữa cả vì còn có nơi đâu bằng được quê hương mình?

Chia tay ông, tôi bỗng nhớ tới lời ông nói khi cắt nghĩa cho tôi nghe về hai bài hát của ông trong “Hương Ca”. Phải biết cởi bỏ, biết quên. Quá vãng là điều đã qua, thì sao lại không cùng nhau nhìn về phía trước?

(Nguyễn Thuỷ Minh, 10-6-2005, từ Hà Nội - NCTG) Read More!

Thống kê web